Di sản của Fidel Castro Ruz: Tượng đài lịch sử, tư tưởng nhân văn và khát vọng vĩnh hằng

Vương Xuân Nguyên

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật giới thiệu ấn phẩm đặc biệt "Fidel Castro Ruz: Từ tuổi thơ đến huyền thoại" của Nhà báo Vương Xuân Nguyên. Tác phẩm này đã hệ thống tư liệu lịch sử xác đáng và giá trị di sản toàn diện về cuộc đời, sự nghiệp của Fidel Castro.

Trong tiếng Tây Ban Nha, từ "Fidel" bắt nguồn từ tính từ gốc Latinh Fidelis, mang ý nghĩa cốt lõi là "Trung thành", "Thủy chung", "Đáng tin cậy" và "Kiên định". Bản chất cuộc đời của Tổng tư lệnh Fidel Castro Ruz là hiện thân của một nhà cách mạng trọn đời trung thành tuyệt đối với lý tưởng giải phóng dân tộc, với hạnh phúc của nhân dân, với nghĩa vụ quốc tế cao cả và sự thủy chung son sắt đối với những người bạn lớn của nhân dân Cuba. Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026), toàn bộ những nội dung phân tích sâu sắc, hệ thống tư liệu lịch sử xác đáng và giá trị di sản toàn diện về cuộc đời, sự nghiệp của ông đã được hệ thống hóa, đúc kết trọn vẹn trong ấn phẩm "Fidel Castro Ruz: Từ tuổi thơ đến huyền thoại" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành. Thông qua tác phẩm này, hệ thống giá trị, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật quân sự, tầm ảnh hưởng quốc tế sâu rộng đối với phong trào giải phóng dân tộc, châu Phi, châu Mỹ Latinh, phong trào Không liên kết, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến trình đổi mới hiện nay cũng như mối quan hệ tương đồng lý tưởng sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh được tích hợp và phân tích triệt để bên trong cấu trúc năm phần cốt lõi gắn liền với từng chữ cái trong tên gọi FIDEL. 

1. F - Fidelidad (Loyalty): Lý tưởng cách mạng, lòng thủy chung son sắt và tình nghĩa đặc biệt với Việt Nam

Chữ F trong tên gọi của Tổng tư lệnh Fidel Castro gắn liền với khái niệm Fidelidad, biểu thị sự trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, với nhân dân Cuba và với những người bạn lớn trên toàn thế giới. Nhìn sâu vào dòng chảy lịch sử tư tưởng chính trị hiện đại, lịch sử ghi nhận một sự tương đồng kỳ diệu về lý tưởng, về đường lối cách mạng, về tư tưởng và về phương pháp cách mạng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng tư lệnh Fidel Castro. Cả hai vị lãnh tụ vĩ đại đều là những người con ưu tú của mỗi dân tộc, sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và đúc kết chân lý thời đại rằng: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thì Fidel Castro cũng hiến dâng toàn bộ cuộc đời để bảo vệ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc qua câu nói nổi tiếng: "Không một thế lực nào có thể khuất phục được một dân tộc quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do". Phương pháp cách mạng của hai vị lãnh tụ đều dựa trên nền tảng chiến tranh nhân dân, lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, kiên định mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân lao động. Sự đồng điệu và tương đồng trong tư tưởng chiến lược ấy chính là nền tảng vững chắc vun đắp nên mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, trước sau như một giữa hai vị lãnh tụ và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba. 

f11-1786063995.jpg

Cuốn sách "Fidel Castro Ruz: từ tuổi thư đến huyền thoại" của Nhà báo Vương Xuân Nguyên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Anh hùng dân tộc Cuba José Martí, Fidel Castro là những người đặt nền móng và nuôi dưỡng mối quan hệ hữu nghị đặc biệt vượt thời gian giữa hai dân tộc. Với ba chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam vào các năm 1973, 1995 và 2003, ông đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ, trở thành biểu tượng rực sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quốc tế cao cả. Trong chuyến thăm lịch sử đầu tiên vào mùa hè năm 1973, bất chấp bom đạn và hiểm nguy, ông đã vượt tuyến lửa Vĩ tuyến 17 để đến thăm vùng đất vừa mới giải phóng tại Quảng Trị, hiên ngang giương cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và hô vang câu nói bất hủ ông đã nói lần đầu vào năm 1966 tại thủ đô La habana: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”.

Ngay sau chuyến thăm đầy cảm xúc và hào hùng ấy, với tình cảm chí tình chí nghĩa, Chính phủ Cuba đã gửi tặng bộ đội Trường Sơn một dàn xe và máy móc thiết bị trị giá 6 triệu USD. Đồng thời cử các kỹ sư, công nhân kỹ thuật bậc cao sang phối hợp với Trung đoàn Công binh 515 thi công đường 42 từ Bến Cát đi Cam Lộ (Quảng Trị) và nâng cấp đường 14 đoạn từ cầu Đakrông đi A lưới (Thừa Thiên Huế) từ cuối năm 1974.

Tổng tư lệnh Fidel Castro, Chính phủ và nhân dân Cuba cũng đã quyết định viện trợ không hoàn lại để xây dựng 5 công trình kinh tế - xã hội tầm cỡ cho Việt Nam với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD thời điểm bấy giờ. Các công trình mang dấu ấn lịch sử đó bao gồm: Khách sạn Thắng Lợi (bên Hồ Tây, Hà Nội), Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới (Quảng Bình), Quốc lộ 21 (đoạn từ Sơn Tây đi Xuân Mai), Trại bò giống Ba Vì và Xí nghiệp gà Lương Mỹ. Không dừng lại ở đó, Cuba còn cử các đoàn chuyên gia, kỹ sư và công nhân bậc cao sang trực tiếp hỗ trợ, đồng thời đào tạo hàng nghìn nhân lực chất lượng cao, các kỹ sư, bác sĩ và chuyên gia các ngành kỹ thuật mũi nhọn cho Việt Nam. 

Không chỉ cử chuyên gia trực tiếp giúp đỡ Việt Nam, mà hàng năm Cuba đều dành học bổng đào tạo bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, chuyên gia nhiều lĩnh vực Cuba có thế mạnh. Từ những năm 1970 đến nay, hàng ngàn sinh viên Việt Nam đã được đào tạo tại Cuba, trong đó nhiều người trở về nước là chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực.

Từ năm 1961 đến năm 1975, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Cuba đều đặn viện trợ cho Việt Nam khoảng 50.000 tấn đường mỗi năm, đồng thời cử bác sĩ sang trực tiếp chăm sóc thương binh, bệnh binh. Hàng ngàn sinh viên Việt Nam từng học tập công tác tại Cuba trở về nước đã có những đóng góp thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, trong giai đoạn Việt Nam bước vào thời kỳ khó khăn nhất sau khi đất nước được giải phóng từ năm 1976 đến năm 1986, khi Việt Nam chịu đựng muôn vàn thiếu thốn do hậu quả chiến tranh để lại, bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận ngặt nghèo và bị cô lập trên trường quốc tế sau chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc cũng như biên giới Tây Nam, Fidel Castro và đất nước Cuba anh em đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ hết sức đặc biệt và chí tình. Cuba là một trong những quốc gia tiên phong ủng hộ mạnh mẽ để Việt Nam chính thức gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1977, đồng thời kiên quyết lên án các hành động bao vây, cấm vận chống lại Việt Nam trên mọi diễn đàn đa phương toàn cầu. Trong những năm tháng vô cùng khánh kiệt ấy, nhân dân Cuba đã chia sẻ với tinh thần "có gì biếu nấy", đặc biệt là việc ủng hộ Việt Nam từng bao đường, từng nguồn thuốc men quý giá và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam khôi phục kinh tế. Đến nay, nhiều người thuộc thế hệ người Việt 7X, 8X vẫn còn mang trên mình “vết sẹo Cuba” vết tích từ mũi tiêm Vaccine Cuba viện trợ.

Sau khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Cuba bước vào “thời kỳ đặc biệt” với mức tăng trưởng âm, đến năm 1993, GDP giảm tới 35% so với năm 1989, nự nước ngoài khoảng 11 tỷ USD, chưa tính khoản nợ 21,5 tỷ Rúp chuyển đổi của Nga. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã dành cho Cuba sự ủng hộ chân thành, coi đó là nghĩa vụ xuất phát từ tình cảm quốc tế trong sáng. Việt Nam kiên định lập trường ủng hộ Cuba trong đấu tranh đòi chấm dứt bao vây cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính. Nhiều phong trào hỗ trợ Cuba được phát động, cùng với việc, Việt Nam bán gạo cho Cuba với giá ưu đãi.

Ngay trong đại dịch COVID-19 đầu năm 2020 - 2022, dù còn nhiều khó khăn, Cuba đã giúp đỡ về chuyên gia, công nghệ, thuốc men, trang thiết bị y tế với phương châm đã được Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch Miguel Diaz Canel khẳng định: “Với Fidel, Cuba từng bày tỏ sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình vì Việt Nam, thì ngày nay Cuba sẵn sàng cung cấp và chuyển giao công nghệ Vaccine COVID-19 cho nhân dân Việt Nam”.

Trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc tiếp theo, sự hỗ trợ chí tình ấy luôn được tiếp nối, đồng thời chiều ngược lại, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn dành cho Cuba tình cảm sắt son, kề vai sát cánh chia sẻ ngọt bùi. Việt Nam đã hỗ trợ thiết thực cho Cuba thông qua việc bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp ổn định các nguồn lương thực chiến lược, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, xuất khẩu gạo và thúc đẩy quan hệ hợp tác chiến lược trên nhiều lĩnh vực.

Đặc biệt, trong quá trình Cuba nghiên cứu và triển khai mô hình đổi mới cấu trúc kinh tế nhằm thích ứng với thực tiễn giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã tích cực chia sẻ những bài học kinh nghiệm thực tiễn quý báu từ mô hình Đổi mới của mình, giúp Cuba từng bước tháo gỡ khó khăn, phát triển kinh tế tư nhân có kiểm soát, thu hút đầu tư nước ngoài và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ gắn bó thủy chung, sự tương trợ chí tình chí nghĩa giữa hai dân tộc qua mọi thăng trầm của lịch sử chính là minh chứng sinh động cho tình đồng chí, anh em keo sơn dẫu cách trở nửa vòng trái đất, là nền tảng vững chắc để hai nước hướng tới tương lai phát triển phồn vinh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

2. I - Internacionalismo (Internationalism): Chủ nghĩa quốc tế cao cả, sứ mệnh giải phóng các dân tộc bị áp bức tại châu Phi, châu Mỹ Latinh và phong trào Không liên kết

Tiếp nối mạch nguồn đó, chữ I đại diện cho Internacionalismo, thể hiện tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, luôn coi vận mệnh của dân tộc mình gắn liền với sự nghiệp giải phóng của nhân loại. Sinh thời, Fidel từng khẳng định tầm nhìn quốc tế của cách mạng Cuba bằng câu nói nổi tiếng: "Chủ nghĩa quốc tế là trả món nợ của chúng ta đối với nhân loại". Fidel không chỉ lãnh đạo nhân dân Cuba bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn vươn tầm ra thế giới với trái tim nhân ái và tinh thần trách nhiệm cao cả. Tầm ảnh hưởng của ông vượt xa biên giới quốc đảo Cuba, trở thành nguồn cảm hứng và chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức tại châu Phi và châu Mỹ Latinh. Một trong những chương chói lọi nhất trong di sản của Fidel Castro chính là sự dấn thân và hy sinh to lớn của Cuba đối với công cuộc giải phóng các quốc gia tại lục địa đen là châu Phi.

Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả từ năm 1961, khi hỗ trợ phong trào độc lập tại Algeria, cho đến chiến dịch quân sự quy mô lớn tại Angola, đặc biệt là Chiến dịch Carlota năm 1975, hàng trăm nghìn chiến sĩ và chuyên gia Cuba đã không quản ngại gian khổ, kề vai sát cánh cùng các dân tộc châu Phi chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid. Bước ngoặt lịch sử tại trận chiến Cuito Cuanavale ở Angola dưới sự chỉ đạo chiến lược từ La Habana đã đập tan mưu đồ của quân đội Nam Phi phân biệt chủng tộc, tạo bước ngoặt quyết định buộc chế độ Apartheid phải ngồi vào bàn đàm phán, dẫn đến việc giải phóng Namibia và sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Nelson Mandela từng xúc động tuyên bố rằng chính chiến thắng của Cuba tại Angola đã tạo tiền đề cho sự tự do của chính ông và toàn thể nhân dân Nam Phi. 

Bên cạnh đó, tại không gian địa chính trị Mỹ Latinh, vùng sân sau chịu nhiều áp lực từ các cường quốc phương Tây, di sản của Fidel Castro hiện lên như một nguồn cảm hứng bất tận cho các phong trào tiến bộ, dân chủ và cánh tả. Với tinh thần đoàn kết lục địa, tư tưởng của Fidel bắt nguồn sâu xa từ di sản của Anh hùng dân tộc Cuba José Martí và nhà giải phóng Simón Bolívar về một châu Mỹ Latinh độc lập, thống nhất và tự cường. Ông đã cổ vũ và hỗ trợ thực chất cho các phong trào cách mạng, các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị nhằm lật đổ các chế độ độc tài quân sự do nước ngoài hậu thuẫn tại khu vực trong suốt những năm 1960 - 1980. Di sản này tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ trong thế kỷ XXI, nơi ảnh hưởng của Fidel Castro in đậm qua sự ra đời của các cơ chế hợp tác khu vực tiến bộ như Liên minh Châu Mỹ hay Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribe. Các thế hệ lãnh đạo và nhân dân tại nhiều quốc gia trong khu vực luôn coi ông là biểu tượng tinh thần của lòng dũng cảm, sự kiên định và khát vọng giải phóng dân tộc triệt để. 

Không dừng lại ở đó, Fidel Castro còn là một trong những kiến trúc sư trưởng định hình diện mạo chính trị thế giới nửa cuối thế kỷ XX thông qua vai trò trụ cột trong Phong trào Không liên kết và các diễn đàn đa phương toàn cầu. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Phong trào Không liên kết lần thứ VI tổ chức tại La Habana năm 1979, với tư cách là Chủ tịch phong trào, Fidel Castro đã có bài phát biểu lịch sử khẳng định bản chất chống đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân và bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển. Ông đã khéo léo chèo lái phong trào vượt qua những chia rẽ nội bộ, giữ vững nguyên tắc cốt lõi là không đứng về bất kỳ khối liên minh quân sự lớn nào, qua đó bảo vệ không gian sinh tồn và tiếng nói của các dân tộc Á - Phi - Mỹ Latinh trên trường quốc tế. Trong công cuộc đấu tranh chống bất công kinh tế toàn cầu, Fidel là một trong những nguyên thủ tiên phong lên án trật tự kinh tế quốc tế bất công, chỉ rõ gánh nặng nợ công khổng lồ đè nặng lên vai các nước nghèo do các thể chế tài chính quốc tế và các nước tư bản lớn áp đặt. Ông đã đưa ra những luận điểm sắc bén về việc xóa nợ công, tái phân bổ nguồn lực toàn cầu và thúc đẩy hợp tác Nam - Nam nhằm tạo ra một thế giới công bằng hơn. 

Đặc biệt, trong tầm nhìn của Fidel Castro về một trật tự thế giới dân chủ và công bằng, ông luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vai trò của Liên hợp quốc. Ông kiên trì đấu tranh biến Liên hợp quốc thực sự trở thành ngôi nhà chung bình đẳng cho tất cả các quốc gia, dân tộc, nơi tiếng nói của các quốc gia nhỏ bé được lắng nghe và tôn trọng thay vì bị chi phối bởi chủ nghĩa cường quyền hay áp đặt bá quyền. Ông không ngừng lên án sự bất bình đẳng trong cấu trúc quyền lực toàn cầu, đòi hỏi cải tổ các thể chế đa phương để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nước đang phát triển.

Đồng thời, ông khởi xướng chiến lược ngoại giao y tế độc đáo, suốt các thập kỷ sau đó, Cuba đã cử khoảng 400.000 lượt nhân viên, y, bác sĩ và chuyên gia y tế tới giúp đỡ và làm việc tại 160 quốc gia trên thế giới. Cùng các sáng kiến xây dựng trường đào tạo quốc tế miễn phí cho sinh viên thế giới. Tầm nhìn toàn cầu của ông đã biến một quốc đảo nhỏ bé thành một trung tâm của tình đoàn kết quốc tế, nơi chia sẻ hạt gạo nghĩa tình và tri thức khoa học với những vùng đất khó khăn nhất trên hành tinh. 

3. D - Dignidad (Dignity): Phẩm giá con người, thiên tài quân sự, nghệ thuật chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân

Chữ D mang ý nghĩa Dignidad, tượng trưng cho khí phách kiên cường trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, chống lại mọi cường quyền và gìn giữ những phẩm giá thiêng liêng nhất của con người, đặc biệt là quyền mưu cầu độc lập, tự do và hạnh phúc. Thể hiện mãnh liệt tinh thần bảo vệ phẩm giá con người và tuyên ngôn đanh thép trước lịch sử, ông từng tuyên bố hùng hồn tại phiên tòa xét xử năm 1953: "Hãy lên án tôi, điều đó không quan trọng, lịch sử sẽ phán xét tôi vô tội".

Về thân thế và nền tảng, Fidel Alejandro Castro Ruz sinh ngày 13/8/1926 tại Birán, thuộc tỉnh Oriente cũ của Cuba, nay thuộc tỉnh Holguín. Sinh ra trong một gia đình điền chủ tại vùng nông thôn, từ thuở nhỏ, Fidel đã bộc lộ tư chất thông minh vượt trội và tinh thần phóng khoáng. Quá trình học tập tại các trường danh tiếng như La Salle, Dolores và trường dòng Belén ở La Habana đã hun đúc cho ông bản lĩnh vững vàng cùng tâm hồn của một người nghệ sĩ tràn đầy nhiệt huyết. Bước ngoặt giác ngộ đến vào tháng 9/1945, khi bước chân vào Khoa Luật và Khoa học xã hội thuộc Trường Đại học La Habana, Fidel nhanh chóng nổi lên như một thủ lĩnh sinh viên đầy uy tín. Ông tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống đế quốc, đứng vào hàng ngũ của Ủy ban vì nền độc lập của Puerto Rico và phong trào dân chủ khu vực. Sự nhạy bén chính trị sớm đưa ông đến với tư tưởng Mácxít và các hoạt động thực tiễn đầy sục sôi. Không chỉ lý thuyết trên giảng đường, Fidel trực tiếp tham gia đội quân viễn chinh chống chế độ độc tài Rafael Leónidas Trujillo ở Dominica năm 1947, thể hiện tinh thần dũng cảm tuyệt vời khi dám nhảy xuống biển mang theo vũ khí để bảo vệ danh dự chiến đấu. Những năm tháng bôn ba hoạt động, tổ chức Đại hội sinh viên Mỹ Latinh tại Colombia năm 1948 và trực tiếp đối mặt với bạo loạn tại Bogotá đã tôi luyện ông thành một nhà cách mạng bản lĩnh.

Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Luật dân sự và Cử nhân Luật ngoại giao năm 1950, Fidel mở văn phòng luật sư chủ yếu để bào chữa miễn phí cho những người nghèo khổ trong xã hội. Khi tên độc tài Fulgencio Batista tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền hợp hiến vào ngày 10/3/1952, Fidel là người đầu tiên dũng cảm đứng lên tố cáo tính chất phản động và kêu gọi toàn dân lật đổ chế độ bạo tàn này. Nhận thức rõ con đường giải phóng không thể chỉ dựa vào nghị trường, ông đã quy tụ và huấn luyện một lực lượng thanh niên yêu nước gồm hơn 1.200 người. Ngày 26/7/1953, ông trực tiếp chỉ huy 160 chiến sĩ tấn công pháo đài Moncada nhằm châm ngòi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang. Dù cuộc tấn công không thành do yếu tố bất ngờ bị phá vỡ và Fidel bị bắt giam, phiên tòa xét xử chính là diễn đàn để ông hô vang bản tự bào chữa chiến lược nổi tiếng nêu trên. 

Nền tảng làm nên tên tuổi của Fidel Castro không chỉ dừng lại ở tầm nhìn chính trị mà còn ở thiên tài quân sự kiệt xuất và tư duy chiến lược sắc bén. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, ông đã vận dụng sáng tạo học thuyết chiến tranh du kích, kết hợp nhuần nhuyễn với tư tưởng chiến tranh nhân dân, lấy sức mạnh đoàn kết của quần chúng làm gốc, học hỏi và chắt lọc những kinh nghiệm quý báu từ các cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại trên thế giới, trong đó có hình mẫu chiến tranh nhân dân của Việt Nam, để áp dụng vào thực tiễn địa hình hiểm trở của vùng Sierra Maestra. Nghệ thuật chiến tranh du kích của Fidel mang màu sắc rất đặc biệt: đó là sự gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang cách mạng với quần chúng nhân dân nông thôn, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ, kết hợp linh hoạt giữa đánh tiêu diệt lực lượng địch với việc xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc.

Sau khi ra tù năm 1955 dưới áp lực mạnh mẽ của quần chúng, ông thành lập Phong trào 26 tháng 7 và sang Mexico tiếp tục chuẩn bị lực lượng. Ngày 25/11/1956, huyền thoại con tàu Granma xuất cảng chở 82 chiến sĩ trở về đất mẹ. Dù bị phục kích đẫm máu tại Alegría de Pío, với sự đùm bọc của nhân dân và nông dân vùng Sierra Maestra, Fidel cùng người đồng chí Raúl Castro đã vực dậy lực lượng, phát triển chiến tranh du kích thần kỳ. Từ chiến thắng đầu tiên tại đồn binh La Plata ngày 17/1/1957 cho đến chiến dịch tổng tiến công toàn diện, dưới tư cách là Tổng Tư lệnh, ông trực tiếp chỉ huy Binh đoàn số 1 “José Martí” chiến đấu kiên cường.

 Ngày 1/1/1959, dưới sự lãnh đạo tổng tiến công và nổi dậy của ông, chế độ độc tài Batista sụp đổ hoàn toàn, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự cho nhân dân Cuba. Khí phách Dignidad ấy tiếp tục tỏa sáng khi ông lãnh đạo nhân dân hiên ngang đánh bại cuộc xâm lược tại bãi biển Girón tháng 4/1961, vượt qua khủng hoảng tên lửa tháng 10/1962 và ông kiên cường lãnh đạo đất nước Cuba vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách do lệnh bao vây, cấm vận ngặt nghèo nhiều thập kỷ sau đó.

4. E - Educación (Education): Cách mạng giáo dục, y tế dự phòng, chính sách nhân văn xuyên suốt và phát triển bền vững con người

Chữ E gắn liền với Educación, phản ánh triết lý lấy con người làm trung tâm, xem con người là động lực và là mục tiêu cao nhất của mọi chính sách xã hội, trong đó tri thức là nền tảng cốt lõi của tự do và độc lập thực sự. Khẳng định tầm quan trọng chiến lược của tri thức đối với vận mệnh quốc gia, Fidel từng nhấn mạnh: "Tương lai của tổ quốc chúng ta phải là những tư duy của những người làm khoa học, của những người có trí tuệ".

Dưới tầm nhìn chiến lược của ông, các chính sách ưu việt và hệ thống an sinh xã hội toàn diện đã được thiết lập với những con số định lượng vô cùng ấn tượng, minh chứng sinh động cho bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chiến dịch xóa mù chữ lịch sử năm 1961 đã huy động hàng trăm nghìn thanh thiếu niên tỏa về các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa để đưa con chữ đến với mọi người dân, qua đó hạ tỷ lệ mù chữ từ mức rất cao xuống còn dưới 4% chỉ trong vòng một năm, đưa Cuba trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ xóa mù chữ cao nhất thế giới. Hệ thống giáo dục quốc dân được phát triển hoàn toàn miễn phí từ bậc tiểu học đến đại học và sau đại học, biến Cuba thành quốc gia có tỷ lệ trí thức, chuyên gia và nhà khoa học hàng đầu khu vực. 

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực y tế và phát triển con người, Cuba dưới sự chèo lái của Fidel đã xây dựng thành công hệ thống y tế dự phòng bao phủ toàn diện đến từng hộ gia đình, đạt tỷ lệ bác sĩ trên đầu người thuộc hàng cao nhất thế giới (với hơn 9 bác sĩ trên mỗi 1.000 dân trong các giai đoạn sau). Việc thành lập Trường Y học Quốc tế Mỹ Latinh đã đào tạo miễn phí hàng vạn bác sĩ cho các nước nghèo trên toàn cầu, cùng hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu không thu phí đã giúp tuổi thọ trung bình của người dân Cuba vượt mốc 78 tuổi và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm xuống mức tương đương hoặc thấp hơn cả các nước phát triển phương Tây.

Các chính sách phát triển thể thao Olympic, an sinh xã hội, bảo vệ trẻ em và trao quyền toàn diện cho phụ nữ đã giúp Cuba luôn duy trì các chỉ số phát triển con người thuộc nhóm dẫn đầu khu vực dù điều kiện kinh tế gặp muôn vàn khó khăn do cấm vận. Lĩnh vực y tế và giáo dục là minh chứng sống động nhất cho chủ nghĩa nhân đạo cộng sản mà Fidel dày công vun đắp, xem chăm sóc sức khỏe và tri thức là quyền cơ bản của con người chứ không phải là món hàng thương mại. Tư duy nhân văn xuyên suốt của ông gắn liền với việc đấu tranh cho công lý xã hội, bảo vệ các giá trị đạo đức cách mạng, chống lại sự bất công và tha hóa. Trong những năm cuối đời, ông còn đặc biệt quan tâm đến các vấn đề sinh tồn toàn cầu, phát triển bền vững, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, đưa ra nhiều cảnh báo sâu sắc về vận mệnh của nhân loại trước những thách thức của chủ nghĩa tư bản hiện đại. 

5. L - Líder (Leader): Lãnh tụ thiên tài, kiến tạo nhà nước xã hội chủ nghĩa, tiến trình đổi mới hiện nay và sự vĩnh hằng của một huyền thoại

Cuối cùng, chữ L thể hiện hình ảnh Líder, vị Tổng tư lệnh, nhà chiến lược kiệt xuất đã chèo lái con thuyền cách mạng Cuba vượt qua mọi sóng gió hiểm nghèo của lịch sử hiện đại. Tổng kết lại bản chất của con đường đấu tranh và xây dựng đất nước, ông từng đúc kết chân lý lớn lao: "Được phục vụ nhân dân, dù có phải hy sinh bản thân, cũng là niềm hạnh phúc lớn lao nhất".

Bước ra từ khói lửa chiến tranh, Fidel đảm nhiệm cương vị Thủ tướng Chính phủ Cách mạng Cuba từ tháng 2/1959, sau đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của ông, nhân dân Cuba đã đương đầu và chiến thắng những thử thách hiểm nghèo nhất. Ông trực tiếp lãnh đạo đất nước hiên ngang vượt qua những năm tháng "thời kỳ đặc biệt" đầy thử thách sau khi khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. 

Mọi thành tựu vĩ đại mà Fidel Castro hiến dâng trọn đời cho đất nước Cuba và cách mạng Cuba không chỉ là những dấu son lịch sử khép kín trong quá khứ, mà chính là nền tảng vững chắc, là động lực tinh thần mạnh mẽ và là kim chỉ nam cho sự phát triển và công cuộc đổi mới toàn diện của Cuba trong giai đoạn hiện nay. Khi đặt tầm nhìn của ông vào bối cảnh thế giới có nhiều biến động, các cơ quan quản lý nhà nước và Đảng Cộng sản Cuba đã và đang tiếp tục đúc rút những giá trị cốt lõi từ di sản của ông để duy trì sự ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội đồng thời mở rộng không gian kinh tế linh hoạt.

Trong tiến trình vượt qua "thời kỳ đặc biệt", dưới sự chèo lái của Fidel Castro, Cuba đã kiên cường vượt qua giai đoạn khủng hoảng toàn diện chưa từng có sau khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Bằng ý chí tự lực tự cường và sự đồng lòng của toàn dân, đất nước đã giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một quốc gia độc lập trước những sức ép bao vây kinh tế ngặt nghèo.

Để thực hiện thực tiễn đổi mới cấu trúc kinh tế nhằm thích ứng với các quy luật vận động của kinh tế thị trường toàn cầu trong giai đoạn hiện nay, nhà nước Cuba tiếp tục triển khai các bước cải cách chiến lược, phát triển kinh tế tư nhân có kiểm soát, mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy chuyển đổi số. Những điều chỉnh này hoàn toàn bám sát tư tưởng linh hoạt, gắn liền tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội mà Fidel đã dày công định hình. Những bài học kinh nghiệm từ cuộc đời hoạt động không mệt mỏi của ông nhắc nhở các thế hệ lãnh đạo kế cận về tầm quan trọng của việc kết hợp sức mạnh nội lực với chủ động hội nhập quốc tế, tuyệt đối không thỏa hiệp về độc lập và chủ quyền dân tộc.

Ngày 31/7/2006, do vấn đề sức khỏe, Fidel tuyên bố rời bỏ các chức vụ chính thức nhưng vẫn tiếp tục cống hiến trí tuệ qua các bài phân tích chiến lược, các nghiên cứu sâu sắc về nông nghiệp và phát triển nhân loại. Vào lúc 22 giờ 29 phút ngày 25/11/2016, người chiến sĩ cách mạng vĩ đại ấy đã từ giã cõi vĩnh hằng ở tuổi 90 tại La Habana, và được an táng tại nghĩa trang Santa Ifigenia ở Santiago de Cuba vào ngày 4/12/2016. 

img-6604-1786077195.jpeg

Poster giới thiệu sách.

Đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp của Tổng tư lệnh Fidel Castro Ruz, ngài Peter Thomson đã thay mặt Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 71 đã khẳng định tại phiên họp đặc biệt ngày 20/12/2016 để tôn vinh Fidel Castro:  

Hôm nay, các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc cùng nhau hội tụ tại đây để bày tỏ lòng tôn kính đối với một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu và có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XX. Trong suốt gần năm thập kỷ, cố Chủ tịch Fidel Castro đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Cuba, và đối với nhiều người, ông chính là hiện thân của cuộc đấu tranh vì độc lập, công lý và phát triển của các quốc gia Nam bán cầu...

Những hoạt động không ngừng nghỉ của ông vì mục tiêu xây dựng một thế giới công bằng và bình đẳng hơn đã khiến ông trở thành biểu tượng của tinh thần đấu tranh và nguồn cảm hứng cho người dân trên khắp thế giới, từ Mỹ Latinh, châu Phi cho đến nhiều khu vực khác.

Đối với nhân dân Cuba, Lãnh tụ Fidel Castro không chỉ là một biểu tượng cách mạng mang tầm vóc toàn cầu; ông đã, đang và sẽ luôn là người mang lại cho họ cả niềm tự hào lẫn những tiến bộ về phát triển xã hội, điều mà cho đến nay vẫn là niềm mơ ước của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ nền giáo dục công lập và hệ thống y tế công hoàn toàn miễn phí được Hiến pháp Cuba bảo đảm, thành tựu vĩ đại nhất của Chủ tịch Fidel Castro có lẽ là việc đưa Cuba trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ mù chữ và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới. Cho đến ngày nay, hệ thống y tế công cộng của Cuba vẫn được Tổ chức Y tế thế giới công nhận là hình mẫu cho các quốc gia khác tham khảo và học hỏi...

Thấm nhuần tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, trong bài phát biểu cuối cùng trước Liên hợp quốc trong khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ, Chủ tịch Fidel Castro đã nêu lên những thách thức mang tính sống còn đối với nhân loại, những vấn đề mà 15 năm sau thế giới mới chính thức cam kết giải quyết thông qua các Mục tiêu Phát triển bền vững. Ông từng tuyên bố: “Bất kỳ ai cũng có thể hiểu được rằng, sứ mệnh lịch sử của Liên hợp quốc trong thế kỷ mới không chỉ là ngăn chặn chiến tranh, mà còn là giải cứu nhân loại khỏi vòng xoáy của nghèo đói, bệnh tật, tình trạng chậm phát triển và sự tàn phá những nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu đối với sự tồn tại của con người trên Trái đất này”.

Kết luận

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026), ấn phẩm "Fidel Castro Ruz: Từ tuổi thơ đến huyền thoại" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành đã phác họa toàn diện bức tranh hùng vĩ về cuộc đời, sự nghiệp và hệ giá trị di sản của ông qua tên gọi Fidel: lòng trung thành (Fidelidad), tinh thần quốc tế trong sáng (Internacionalismo), khí phách bảo vệ phẩm giá con người (Dignidad), cuộc cách mạng giáo dục và y tế vì con người (Educación) cùng bản lĩnh của một vị lãnh tụ thiên tài (Líder). Cuộc đời của Fidel Castro là minh chứng hùng hồn cho chân lý: "Không một thế lực nào có thể khuất phục được một dân tộc quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do". Di sản tư tưởng, hệ thống giá trị nhân văn toàn diện và tinh thần quật khởi của ông sẽ mãi mãi là ngọn đuốc sáng ngời, là động lực to lớn cho sự phát triển và đổi mới hiện nay của Cuba, đồng thời là tài sản tinh thần vô giá cho các dân tộc trên thế giới trong khát vọng vươn tới hòa bình, công bằng, tiến bộ xã hội và tôn trọng những quyền thiêng liêng nhất của con người./.

Đọc bài viết bằng tiếng Tây Ban Nha TẠI ĐÂY